Chat Facebook Chat Zalo
0933150888

Đàn đáy – Tinh hoa cổ nhạc

Đàn đáy – Tinh hoa cổ nhạc

“Tên em như có mà không
Ba dây dẫn sóng trăm sông về nguồn
Ca trù hột đổ phách giòn
Tuổi phai xanh, chạm tiếng đàn lại xanh”

(Thơ vịnh đàn đáy của cố thi sĩ Nguyễn Hải Phương)

Đàn đáy, hay còn gọi là vô đề cầm – tức đàn không đáy – là một nhạc cụ độc nhất vô nhị của nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam, chỉ có ở Việt Nam. Gắn liền với nghệ thuật hát ả đào, cùng với trống chầu và sênh phách, đàn đáy là một yếu tố không thể thiếu, bởi “phi đàn đáy bất thành ca trù”.

Đàn đáy - Tinh hoa cổ nhạc

Tuy là nhạc cụ ba dây, nhưng đàn đáy khác hoàn toàn với đàn Shamisen của Nhật Bản hay Tam huyền cầm của Trung Quốc với thang âm và tiết tấu độc đáo. Trong thiên truyện huyền hoặc mang tên Chùa Đàn của nhà văn Nguyễn Tuân, vẻ đẹp tột bực của nghề hát ca trù được tôn vinh đến cực điểm thông qua việc dựng lên một ngôi chùa chỉ để phụng thờ duy nhất cây đàn đáy.

Truyền thuyết về đàn đáy

Xung quanh nguồn gốc của tên đàn, khảo các thư tịch cổ, ta thấy có hai cách giải thích chính. Thứ nhất, theo sách Ca trù bị khảo và Vũ trung tùy bút, khi hát ở cửa đình hay ở nhạc đường, người kép sẽ lấy khăn nhiễu điều hoặc dây lụa đeo đàn vào người mà đứng gảy cho đỡ mỏi. Chữ Hán gọi dây đeo là đới (帶), lâu dần tiếng ta gọi chệch đi là đáy.

Thứ hai, theo truyện tổ nghề ca trù được ghi lại trong bản thần phả do Đông Các Đại học sỹ Đào Cử soạn vào năm 1476, xưa có ông Đinh Lễ đời Lê, vốn là người Thanh Hóa nhưng do đời chiến chinh mà tới Lỗ Khê trú ngụ. Tại đây ông gặp Đường Hoa tiên nữ, cảm mến nhau mà nên duyên chồng vợ, rồi cả hai cùng lập giáo phường, truyền bá lời ca tiếng hát khắp một vùng. Mãn hạn trần gian, hai vợ chồng cùng thác về trời. Vì anh linh hai vị mà vua phong cho ông làm Thanh Xà Đại vương, bà làm Mãn Đào Hoa công chúa, lại lập đền thờ cả hai ngay bên đình Lỗ Khê.

Theo đó, để phục vụ cho giáo phường, ông Đinh Lễ đã chế tạo ra cây đàn không có đáy để đệm theo tiếng hát đào nương, “khúc đàn cuồn cuộn như nước chảy ra biển sâu không thấy đáy”. Vì thế mà đàn còn có tên chữ Hán là vô đề cầm, song dân gian chỉ gọi một cách giản dị là đàn đáy.

Một bản thần phả khác tại làng Cổ Đạm cũng ghi chép câu chuyện tương tự, song cụ thể hơn với nhiều chi tiết mới. Theo đó, tổ nghề ca trù vẫn là ông Đinh Lễ đời Lê, có tên tự là Nguyên Sinh. Ngay từ thuở ấu thơ, Nguyên Sinh đã giỏi nghề xướng họa; khi lớn lên, Sinh tỏ ra là một trang thiếu niên có tâm hồn phóng khoáng, ưa thích việc dùng lời ca tiếng đàn của mình để bầu bạn với cỏ cây sông nước.

Trong một lần ngao du, chàng có may mắn được tiên ông trao cho khúc gỗ ngô đồng và chỉ dẫn làm cây đàn đáy từ khúc gỗ đó. Kể từ bấy, ngón nghề của chàng trở nên tuyệt kỹ gấp bội, và nhờ tiếng đàn của mình, Nguyên Sinh gặp được nàng Bạch Hoa tại Thanh Hóa, giúp nàng bộc bạch nỗi lòng sâu kín, hóa giải chứng câm đã theo nàng suốt bao năm ròng. Sau khi kết duyên đôi lứa, hai vợ chồng Nguyên Sinh – Bạch Hoa trở về Cổ Đạm lập giáo phường, thu nhận rất đông học trò.

Khi duyên trần đã hết, tiên ông năm nào đưa Nguyên Sinh về trời tu đạo, còn Bạch Hoa ở lại nhân gian tiếp tục truyền dạy nghề hát xướng, rồi ít lâu sau nàng cũng lâm bệnh mà mất. Để tưởng nhớ công ơn vợ chồng nàng, các học trò đã lập đền thờ Tổ cô đầu, hay còn gọi là đền Bạch Hoa công chúa, lấy ngày 11 tháng chạp hàng năm là ngày giỗ Tổ. Về sau vua cũng phong cho Nguyên Sinh là Thanh Xà Đại vương và Bạch Hoa là Mãn Đào Hoa công chúa.

Như vậy, có thể thấy rằng, nguồn gốc tên gọi cùng thời điểm ra đời của cây đàn đáy không thực sự rõ ràng khi lẫn vào nhiều huyền tích dân gian. Mặc dù ca trù có một lịch sử phát triển dài lâu ngay từ thế kỷ thứ 10, song theo nhiều nhà nghiên cứu, đàn đáy xuất hiện sớm nhất vào khoảng thế kỷ 15 và rất phổ biến trong dân gian thời nhà Mạc. Điều đó cũng hé lộ rằng tục hát ả đào liên tục thay đổi qua nhiều giai đoạn, không phải lúc nào cũng cố định với đầy đủ lệ bộ đào – kép – trống – phách – đàn.

Tác giả: Tường Vân

Xem thêm: Kép đàn

Theo dõi chúng tôi tại f/tinhhoaconhac