Chat Facebook Chat Zalo
0933150888

Nàng ca nhi họ Nguyễn (P2)

Thư vừa quăng xuống biển, mây đen bốn phía mù trời, sóng gió nổi ầm ầm, các giống thủy quái nổi lên đầy mặt nước. Chung quanh thuyền vua có những con thuồng luồng nhe nanh múa vuốt, thuyền tròng trành chực đắm. Quân sĩ đều sợ hãi. Tướng quân Đinh Liệt và Lê Niệm chỉ bảo quân sĩ kíp bỏ neo thuyền, vua ra đứng trước long chu, sai quan Học sĩ Lương Thế Vinh viết thư cho Quảng Lợi Long vương.

Hát thi ở cửa đình

 

Thư rằng:

Đại Việt Hoàng Đế sắc thơ Vu Quảng Lợi Long Vương:

Trẫm văn dương-xuân hữu cước, vị tất tiên hàn cốc chi trung. Chấn diệu  vô tư, nan tận chiếu phú bồn chi hạ.

Tuy Vương đạo chi chu lưu đãng đãng, nãi quyền gian chi úng tế thao thao. Trí linh dốc hải chi phân phù thượng hữu cường thần chi bạt hỗ. Dĩ hĩ, tứ thông vị đạt, tín dư tân tế thậm ư thu hào. Ta hồ, trùng môn vị khai, giác đường thượng viễn đồng ư thiên lý. Tri quá hạnh thừa ký lý, Kỵ

sàm di thiết mạnh Long. Tuy lưỡng gian chi u hiển các thù, nhiên tam sích chi công bình cụ tại. Bản gia dĩ nhục ngư chi trọng lực, dụng chính ngũ hình. Cô niệm kỳ hãn mã chi vi lao, thả khoan bát nghị. Doanh chư lục địa, thinh tự đào sinh. Lạo thảo hồng tiên, ngưỡng kỳ thanh chiếu.

Hồng Đức nguyên niên, nhị nguyệt, nhị thập nhật.”

 

Dich:

“Hoàng Đế nước Đại Việt sắc thư cho Quảng Lợi Long Vương:

Trẫm nghe: Hơi dương Xuân đầm ấm, chưa hẳn thấu trước chốn hang cùng. Bóng mặt trời khắp soi, khôn dễ chiều dưới lòng chậu úp. Dẫu Vương đạo đã tràn mọi chốn, nhưng quyền. gian còn nấp một nơi. Sui nên chỗ góc biển phân phù, vẫn có kẻ quyền thầnh ngang ngược. Thôi vậy, bổn khiếu thông chưa thấu suốt, xe củi nhỏ hơn lông mùa thu, Than ôi, mấy lần cửa chửa mở ra, trên thềm xa như đường nghìn dậm. Tạ lỗi gửi lời cả chép, trừ gian nên khiến ông Long. Tuy hai đàng u hiển khác nhau, mà ba thước công bằng ở đó. Toàn thắng cánh cá đem làm thịt, để chính năm hình, nghĩ chút công ngựa đồ mồ hôi, hãy khoan tám nghị. Tha cho lên cạn, tìm chỗ ẩn mình, vắn tắt thư hồng, khá mau hối cải.

Ngày 20 tháng 2, năm Hồng-Đức nguyên niên.”

Viết xong đông ấn quốc bảo, vua sai Nội giám quăng xuống biển. Khoảnh khắc sóng gió im lặng, Thủy-thần cùng các loài thủy-quải rẽ nước đi về lối đông, mặt biển lại vên ổn như thường.

Sáng hôm sau ngọc.thể Tử Vân Phu nhân nổi lên ở trên bãi cát, xiêm áo tề chính, nhan sắc như lúc sinh thời. Vua sai lấy lễ Hậu phi táng ở bên sông, sắc cho dân sở tại sửa lại đền miếu đèn hương phụng tự.

Đại quân thuận buồm xuôi gió, tiến thẳng vào kinh đô Đồ bàn, bắt sống được Trà Toàn. Vua cho sát nhập xứ Quảng nam vào bản đồ nước ta.

Khi khải hoàn vua sai quan sở tại sửa lại đền miếu nàng ca nhi họ Nguyễn cho nguy nga để thờ Tử Vân Phu nhân, sắc phong là Chế Thắng Đại vương. Lại ban ruộng tự điền, bốn mùa cúng tế.

Vua ngự chế bài thơ khắc vào bia đá ở của đền:

Bản thị Hi lăng cung lý nhân,

Lâm nguy vị quốc độc vong thân.

Yêu phong nhất trận đào hoa lãng,

Xuân mộng tam canh đỗ nhược tần.

Hàn thủyvpô đoan mai Sở phụ,

Hương hồn hà xứ điếu Tương quân.

Cương thường vạn cổ ưng cô quý,

Từ ngoại thư cưu hí thủy văn.

 

Dịch:

Trong điện Hi lăng khách phấn hương,

Lâm nguy vì nước bỏ thân nàng.

Sóng đào một trận yêu phong nổi.

Bến cỏ ba canh xuân mộng vương.

Nước lạnh bỗng dưng chôn gái Sở,

Hồn thơm nào chốn viếng bà Tương.

Cương thường muôn thuở dành không thẹn,

Ngoài miếu chim cưu dỡn nước vang.

 

[theo Việt nam Ca trù biên khảo]

 

Phần 1